Xã
hội ngày càng phát triển thì nhu cầu du lịch càng tăng cao. Du lịch không chỉ
là một nhu cầu hưởng thụ mà còn là một cách trau dồi kiến thức, vốn văn hóa, mở
rộng sự hiểu biết. Từ xa xưa du lịch được xem như là một sở thích của giới thượng
lưu, hầu hết các danh thắng, cảnh đẹp ở nước ta các vua chúa đã từng đặt chân đến
và có đề bút tích ở đó, như: Vịnh Hạ Long, Chùa Hương, Tam Cốc - Bích Động…
Ngày
nay trên phạm vi thế giới du lịch đã trở thành nhu cầu cần thiết của con người,
nó vượt qua phạm vi của một dân tộc, một quốc gia, một lãnh thổ, và lan rộng ra
toàn cầu. Du lịch là nơi giao lưu, gặp gỡ, trao đổi kiến thức, văn hoá giữa con
người với con người, con người với tự nhiên, góp phần làm phong phú thêm đời sống
tinh thần.
Hoạt
động du lịch ở Việt Nam trongnhững năm gần đây liên tục có sự phát triển. Theo
số lượng thống kê của Bộ VH TT và Du lịch. Số lượng khách du lịch từ năm 1990 đến
năm 2007 lượng khách du lịch luôn duy trì được mức tăng trưởng, khách du lịch
quốc tế tăng 17 lần từ 250.000 lượt (1990) lên xấp xỉ 4.253 triệu lượt (2008).
Khách du lịch nội địa ước tăng 20 lần từ 1triệu lượt (1990) lên 20,5 triệu lượt
năm (2008).
Về
thu nhập du lịch: du lịch thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế mọi tầng
lớp nhân dân, mang lại thu nhập không chỉ cho các đối tượng trực tiếp kinh
doanh du lịch, mà gián tiếp đối với các ngành liên quan. Tốc độ tăng trưởng
nhanh về thu nhập, năm 1990 thu nhập du lịch mới đạt 1.350 tỷ đồng thì đến năm
2009, con số đó ước đạt 70.000 tỷ đồng, gấp trên 50 lần.
Hiệu
quả kinh tế xã hội của hoạt động du lịch ngày càng rõ nét, góp phần xoá đói giảm
nghèo và làm giàu cho xã hội. Du lịch phát triển góp phần tăng tỉ trọng GDP của
ngành du lịch trong khu vực dịch vụ. Ở đâu du lịch phát triển, ở đó diện mạo đô
thị, nông thôn được chỉnh trang, đời sống nhân dân được cải thiện rõ nét như:
Sa Pa, ( Lào Cai), Sầm Sơn ( Thanh Hoá)…
Trong
sự phát triển của ngành du lịch, du lịch lễ hội góp phần quan trọng vào việc
thu hút du khách, đặc biệt là lễ hội của các dân tộc có sắc thái văn hóa và những
nét độc đáo riêng.
Khu
vực Việt Bắc bao gồm sáu tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên
Quang, Hà Giang. Đây là nơi sinh sống lâu đời của các dân tộc như: Tày, Nùng,
Dao, Hmông, Cao Lan… truyền thống sinh hoạt đã tạo nên nét văn hoá đặc sắc với
điệu múa Khèn của người Mông, điệu hát then của người Tày… nơi đây cũng có rất
nhiều lễ hội đặc sắc mang đậm bản sắc văn hoá : Lễ hội Lồng Tồng, lễ hội Cầu
Mùa, lễ hội Giã Cốm, Nhảy Lửa…
Ngoài
ra trong thời kì kháng chiến chống Pháp Việt Bắc cũng là nơi, Bác Hồ, các cán bộ
chủ chốt của Đảng sống và làm việc. Vì vậy, khu vực này còn lưu giữ nhiều di
tích lịch sử có giá trị. Góp phần làm tăng thêm tiềm năng du lịch nhân văn.
Mời
các bạn quan tâm tìm hiểu khóa luận cùng chủ đề "Tìm hiểu một số lễ hội tiêu biểu ở
khu vực Việt Bắc góp phần phát triển du lịch nhân văn” của tác giả Lý
Thanh Tình tại đường link: http://lib.hpu.edu.vn/handle/123456789/19823
Nhận xét
Đăng nhận xét